Kháng sinh thủy sản là nhóm thuốc đặc trị dùng để tiêu diệt hoặc ức chế vi khuẩn gây bệnh trên tôm, cá, lươn, chạch, ếch, được xem là “cứu cánh” khi ao nuôi rơi vào tình huống hoại tử gan tụy, phân trắng hay xuất huyết lan nhanh không thể xử lý bằng vi sinh thông thường. Nhưng đây cũng là con dao hai lưỡi: dùng sai loại, sai liều hoặc sai thời điểm không chỉ khiến vi khuẩn kháng thuốc mà còn để lại dư lượng, khiến cả lô hàng bị từ chối xuất khẩu. Sau đây, Bio Kama sẽ tổng hợp đầy đủ các nhóm kháng sinh được phép và bị cấm theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, liều lượng tham khảo, thời gian ngừng thuốc trước thu hoạch, cùng nguyên tắc sử dụng an toàn để bà con vừa trị dứt bệnh vừa giữ được đầu ra cho vụ nuôi.
Kháng sinh thủy sản là gì? Vì sao được xem là con dao hai lưỡi?
Về bản chất, kháng sinh là hợp chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp nhân tạo, có khả năng tiêu diệt (diệt khuẩn) hoặc kìm hãm sự phát triển (kìm khuẩn) của vi khuẩn gây bệnh. Trong nuôi trồng thủy sản, kháng sinh được dùng để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn trên tôm, cá tra, cá basa, lươn, chạch, ếch, ốc hương, tuyệt đối không có tác dụng với bệnh do virus như đốm trắng, Taura hay đầu vàng.
Sở dĩ giới chuyên môn gọi đây là con dao hai lưỡi vì kháng sinh không phân biệt vi khuẩn có hại và vi khuẩn có lợi. Khi trộn vào thức ăn hoặc tạt xuống ao, kháng sinh tiêu diệt luôn cả hệ vi sinh vật đường ruột của tôm cá lẫn hệ vi sinh có lợi trong môi trường nước, khiến vật nuôi chậm lớn, hệ tiêu hóa suy yếu ngay sau đợt điều trị. Đó là lý do bệnh do vi khuẩn mới cần đến kháng sinh, còn lại phần lớn vấn đề môi trường như khí độc NH3/NO2 tăng cao, tảo tàn hay pH biến động nên được xử lý bằng vi sinh và quản lý kỹ thuật thay vì lạm dụng kháng sinh.
Khi nào ao tôm ao cá thật sự cần dùng đến kháng sinh?
Không phải cứ thấy tôm bỏ ăn, cá nổi đầu là tra ngay kháng sinh vào ao. Việc đầu tiên người nuôi cần làm là xác định đúng tác nhân gây bệnh, vì kháng sinh chỉ có tác dụng khi bệnh xuất phát từ vi khuẩn.
Dấu hiệu thường gặp khi tôm cá nhiễm khuẩn và có thể cần đến kháng sinh gồm:
- Tôm bỏ ăn đột ngột kèm gan tụy nhợt màu, teo nhỏ, đường ruột đứt khúc, đây là biểu hiện điển hình của bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus.
- Tôm bị phân trắng, phân đứt khúc nổi trên mặt nước, ruột rỗng hoặc cong, thường liên quan đến nhóm Vibrio kết hợp vi bào tử trùng EHP.
- Cá tra, cá basa xuất hiện đốm mủ trắng trong nội tạng, bụng chướng, đây là dấu hiệu bệnh gan thận mủ do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri.
- Lươn, chạch, ếch bị lở loét ngoài da, xuất huyết, sình bụng, phần lớn do Aeromonas hydrophila hoặc các chủng Vibrio cơ hội.
Ngược lại, nếu tôm rớt đáy hàng loạt kèm đốm trắng dưới vỏ, gan không teo, hoặc cá có biểu hiện thần kinh bất thường, khả năng cao là bệnh do virus hoặc ký sinh trùng, lúc này dùng kháng sinh vừa tốn chi phí vừa không giải quyết được gốc bệnh. Người nuôi nên gửi mẫu xét nghiệm hoặc nhờ kỹ sư kiểm tra trước khi ra quyết định, tránh tình trạng dùng kháng sinh tràn lan khiến vi khuẩn nhờn thuốc về sau.
Các nhóm kháng sinh nào được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản hiện nay?
Theo Thông tư 04/2016/TT-BNNPTNT (được sửa đổi bởi Thông tư 01/2022/TT-BNNPTNT) và các quy định của Cục Thú y, chỉ một số nhóm kháng sinh nằm trong danh mục thuốc thú y thủy sản được phép lưu hành mới được sử dụng, với mức dư lượng tối đa (MRL) cụ thể cho từng hoạt chất. Dưới đây là các nhóm phổ biến nhất trên thị trường hiện nay.
Nhóm Tetracycline Oxytetracycline và Doxycycline dùng phổ biến nhất trên tôm cá
Oxytetracycline là kháng sinh phổ rộng, kìm hãm cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm, được dùng nhiều nhất trong phòng trị bệnh gan tụy và đường ruột trên tôm sú, tôm thẻ chân trắng nhờ giá thành hợp lý và phổ tác dụng rộng. Liều tham khảo trên tôm khoảng 3 – 5 gram hoạt chất trên 1kg thức ăn, cho ăn liên tục 5 đến 7 ngày.
Doxycycline thuộc cùng nhóm, hấp thu tốt hơn qua đường ruột, thường được chỉ định cho cá tra, cá basa bị gan thận mủ và xuất huyết phù đầu với liều phòng bệnh khoảng 1 – 2 gram trên 1kg thức ăn, liều trị bệnh tăng lên 3 đến 4 gram trên 1kg thức ăn. MRL cho phép của nhóm tetracycline là 100 ppb theo quy định hiện hành.
Nhóm Sulfonamide phối hợp Trimethoprim cho tôm cá ếch
Đây là cặp phối hợp cộng hưởng kinh điển trong điều trị bệnh đường ruột và nhiễm khuẩn huyết trên tôm, cá tra, ếch, thường thấy ở các sản phẩm dạng bột chứa Trimethoprim kết hợp Sulfadimidin hoặc Sulfamethoxazol.
Cơ chế Trimethoprim và Sulfonamide ức chế hai bước liên tiếp trong quá trình tổng hợp acid folic của vi khuẩn nên hiệu quả diệt khuẩn cao hơn hẳn so với dùng đơn lẻ, phù hợp với các ca nhiễm khuẩn huyết trên ếch hoặc phân trắng kèm bỏ ăn trên tôm. Dư lượng cho phép của Sulfonamide là 100 ppb còn Trimethoprim là 50 ppb.
Nhóm Phenicol lựa chọn hàng đầu cho các ca bệnh nặng
Florfenicol là kháng sinh phổ rộng thế hệ mới, an toàn hơn Chloramphenicol (chất đã bị cấm hoàn toàn) nhưng vẫn giữ hiệu lực mạnh với các chủng Vibrio, Aeromonas, Edwardsiella. Trên tôm, Florfenicol được dùng khi hoại tử gan tụy đã ở mức nặng với liều khoảng 1 gram trên 1kg thức ăn, cho ăn liên tục 7 – 10 ngày.
Trên cá tra, cá basa bị gan thận mủ hoặc xuất huyết, liều phòng bệnh khoảng 0.5 đến 1 gram trên 1kg thức ăn còn liều trị bệnh tăng lên 2 gram/kg thức ăn. Trên lươn, chạch, ếch bị viêm gan hoặc lở loét ngoài da, Florfenicol cũng là lựa chọn được ưu tiên nhờ MRL cho phép lên đến 1000 ppb, mức dư lượng tối đa cao nhất trong danh mục hạn chế sử dụng, đồng nghĩa với biên độ an toàn tốt hơn khi dùng đúng liều và đúng thời gian ngừng thuốc.
Nhóm beta-lactam ưu tiên cho nhiễm khuẩn Gram dương
Amoxicillin và Ampicillin thường được phối hợp cùng Florfenicol hoặc Doxycycline trong phác đồ trị gan thận mủ trên cá tra, đồng thời cũng dùng cho tôm khi có nhiễm khuẩn Gram dương thứ phát sau tổn thương gan tụy. Đây là nhóm có dư lượng cho phép (MRL) thấp nhất trong danh mục hạn chế sử dụng, chỉ 50 ppb, nên đòi hỏi tuân thủ thời gian ngừng thuốc nghiêm ngặt hơn các nhóm khác trước khi thu hoạch.
Nhóm Quinolone thế hệ cũ vẫn còn trong danh mục cho phép
Khác với nhóm fluoroquinolone đã bị cấm hoàn toàn, hai hoạt chất quinolone thế hệ cũ là Oxolinic Acid và Flumequine vẫn nằm trong danh mục hạn chế sử dụng với MRL lần lượt là 100 ppb và 600 ppb.
Hai hoạt chất này thường được chỉ định cho các bệnh nhiễm khuẩn Vibrio trên cá biển, cá tra và tôm khi các nhóm kháng sinh khác đáp ứng kém, tuy nhiên do cùng thuộc họ quinolone với nhóm đã bị cấm nên người nuôi cần đọc kỹ tên hoạt chất trên nhãn, tránh nhầm lẫn Oxolinic Acid hay Flumequine với Enrofloxacin hoặc Ciprofloxacin đã bị cấm.
Nhóm Macrolide và Aminoglycoside dùng bổ trợ
Erythromycin và Tylosin thuộc nhóm macrolide thường được phối hợp cùng tetracycline hoặc rifampicin để tăng hiệu lực trên các chủng vi khuẩn Gram dương gây bệnh đường ruột ở tôm và cá, với MRL lần lượt là 200 ppb và 100 ppb.
Nhóm aminoglycoside như Neomycin, Paromomycin, Spectinomycin cùng nhóm polypeptide như Colistin chủ yếu dùng cho các ca nhiễm khuẩn Gram âm đường ruột khi các nhóm chính không đáp ứng. Dư lượng cho phép dao động từ 150 – 500 ppb tùy hoạt chất. Đây là các nhóm ít phổ biến hơn trên thị trường thuốc thủy sản hiện nay nên người nuôi nên tham khảo ý kiến kỹ sư trước khi sử dụng để tránh phối trộn sai cách.
Bảng dưới đây tổng hợp nhanh các nhóm kháng sinh phổ biến để bà con tiện tra cứu:
| Nhóm kháng sinh | Hoạt chất tiêu biểu | Đối tượng nuôi | Bệnh thường điều trị | MRL (ppb) | Tình trạng sử dụng |
|---|---|---|---|---|---|
| Tetracycline | Oxytetracycline | Tôm sú, tôm thẻ | Hoại tử gan tụy, viêm đường ruột | 100 | Được phép, hạn chế |
| Tetracycline | Doxycycline | Cá tra, cá basa, tôm | Gan thận mủ, xuất huyết phù đầu | 100 | Được phép, hạn chế |
| Phenicol | Florfenicol | Tôm, cá tra, lươn, chạch, ếch | Hoại tử gan tụy, gan thận mủ, viêm gan, lở loét | 1000 | Được phép, hạn chế |
| Sulfonamide + Trimethoprim | Sulfadimidin, Sulfamethoxazol | Tôm, cá, ếch | Nhiễm khuẩn huyết, phân trắng, đường ruột | 100 (Sulfonamide), 50 (Trimethoprim) | Được phép, hạn chế |
| Beta-lactam | Amoxicillin, Ampicillin | Cá tra, tôm | Gan thận mủ, nhiễm khuẩn Gram dương | 50 | Được phép, hạn chế |
| Quinolone thế hệ cũ | Oxolinic Acid, Flumequine | Cá biển, cá tra, tôm | Nhiễm khuẩn Vibrio khi đáp ứng kém với nhóm khác | 100 và 600 | Được phép, hạn chế |
| Macrolide | Erythromycin, Tylosin | Tôm, cá | Nhiễm khuẩn Gram dương đường ruột | 200 và 100 | Được phép, hạn chế |
| Aminoglycoside, polypeptide | Neomycin, Colistin | Tôm, cá | Nhiễm khuẩn Gram âm đường ruột | 150 đến 500 | Được phép, hạn chế |
| Fluoroquinolone | Enrofloxacin, Ciprofloxacin, Ofloxacin | Trước đây dùng cho tôm, cá | Trước đây dùng trị phân trắng, đường ruột | Không áp dụng | Đã cấm sử dụng |
| Nitrofuran | Furazolidone và dẫn xuất | Trước đây dùng cho tôm, cá | Trước đây dùng phổ rộng | Không áp dụng | Đã cấm sử dụng |
Ghi chú: Bảng mang tính chất tham khảo tổng hợp từ quy định hiện hành, người nuôi cần đối chiếu nhãn sản phẩm và hướng dẫn của Cục Thú y trước khi sử dụng.
Danh mục kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong thủy sản gồm những gì?
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành nhiều văn bản quy định danh mục hóa chất, kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản, tập trung tại Thông tư 08/VBHN-BNNPTNT (văn bản hợp nhất) và các thông tư sửa đổi liên quan. Đây là cơ sở pháp lý bắt buộc mà mọi hộ nuôi, trang trại và đại lý phân phối thuốc thủy sản phải tuân thủ.
Nhóm chất bị cấm hoàn toàn là những chất có nguy cơ gây độc tính cao, tồn dư lâu trong mô thịt hoặc bị nghi ngờ gây ung thư trên người tiêu dùng, do đó tuyệt đối không được phép có mặt trong bất kỳ khâu nào từ sản xuất giống, thức ăn, xử lý môi trường đến bảo quản chế biến. Bảng dưới đây liệt kê các hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng phổ biến nhất theo Thông tư 08/VBHN-BNNPTNT và các văn bản sửa đổi liên quan.
| STT | Tên hóa chất, kháng sinh | Ghi chú |
|---|---|---|
| 1 | Chloramphenicol | Nguy cơ gây suy tủy xương, độc tính cao trên người |
| 2 | Nhóm Nitrofuran (Furazolidone, Nitrofurazon, Furacin, Nitrofurantoin…) | Nghi ngờ gây ung thư, tồn dư lâu trong mô thịt |
| 3 | Malachite Green (xanh Malachite) | Hóa chất diệt nấm, nghi ngờ gây ung thư |
| 4 | Gentian Violet (Crystal Violet) | Hóa chất diệt nấm, nghi ngờ gây ung thư |
| 5 | Dimetridazole, Metronidazole, Ronidazole, Ipronidazole | Nhóm Nitroimidazole, độc tính trên gan |
| 6 | Trichlorfon (Dipterex), DDVP (Dichlorvos) | Hóa chất diệt ký sinh trùng gốc phospho hữu cơ |
| 7 | Nhóm Fluoroquinolone (Enrofloxacin, Ciprofloxacin, Ofloxacin) | Cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản |
| 8 | Carbadox, Olaquindox | Kháng sinh tổng hợp, nguy cơ gây đột biến gen |
| 9 | Bacitracin Zn | Kháng sinh nhóm peptide dùng trong thức ăn chăn nuôi |
| 10 | Clenbuterol | Chất tạo nạc, cấm tuyệt đối trong chăn nuôi và thủy sản |
| 11 | Diethylstilbestrol (DES) | Hormone tổng hợp, nghi ngờ gây ung thư |
| 12 | Nhóm Glycopeptide (Avoparcin…) | Nguy cơ kháng chéo với kháng sinh điều trị cho người |
| 13 | Cypermethrin, Deltamethrin, Trifluralin | Hóa chất bảo vệ thực vật, độc với thủy sinh vật |
| 14 | Aristolochia spp và các chế phẩm từ chúng | Thảo dược có độc tính, nghi ngờ gây ung thư |
Ghi chú: đây là danh mục tổng hợp các chất cấm phổ biến nhất, không phải toàn bộ văn bản gốc. Người nuôi nên đối chiếu trực tiếp Thông tư 08/VBHN-BNNPTNT hoặc hỏi ý kiến Cục Thú y, chi cục thủy sản địa phương trước khi sử dụng bất kỳ sản phẩm nào chưa rõ thành phần.
Nhóm hạn chế sử dụng, tức được phép dùng nhưng phải tuân thủ mức dư lượng tối đa (MRL) và thời gian ngừng thuốc trước thu hoạch, gồm các hoạt chất sau:
| STT | Tên hoạt chất | MRL (ppb) | Nhóm kháng sinh |
|---|---|---|---|
| 1 | Amoxicillin | 50 | Beta-lactam |
| 2 | Ampicillin | 50 | Beta-lactam |
| 3 | Benzylpenicillin | 50 | Beta-lactam |
| 4 | Cloxacillin, Dicloxacillin, Oxacillin | 300 | Beta-lactam |
| 5 | Oxolinic Acid | 100 | Quinolone thế hệ cũ |
| 6 | Flumequine | 600 | Quinolone thế hệ cũ |
| 7 | Colistin | 150 | Polypeptide |
| 8 | Erythromycin | 200 | Macrolide |
| 9 | Tylosin | 100 | Macrolide |
| 10 | Tilmicosin | 50 | Macrolide |
| 11 | Florfenicol | 1000 | Phenicol |
| 12 | Lincomycin | 100 | Lincosamide |
| 13 | Neomycin, Paromomycin | 500 | Aminoglycoside |
| 14 | Spectinomycin | 300 | Aminoglycoside |
| 15 | Oxytetracycline, Tetracycline, Chlortetracycline | 100 | Tetracycline |
| 16 | Sulfonamide (các loại) | 100 | Sulfonamide |
| 17 | Trimethoprim, Ormetoprim | 50 | Diaminopyrimidine |
Ghi chú: Nhóm Quinolone thế hệ mới thuộc họ fluoroquinolone như Danofloxacin, Difloxacin, Ciprofloxacin, Sarafloxacin từng xuất hiện trong một số văn bản MRL cũ nhưng hiện đã bị nhiều thị trường xuất khẩu và các thông tư sửa đổi sau này đưa vào diện kiểm soát nghiêm ngặt hoặc cấm hoàn toàn, người nuôi nên tránh sử dụng để không rủi ro cho lô hàng xuất khẩu. Với nhóm hạn chế sử dụng, sản phẩm thủy sản khi thu hoạch phải đảm bảo dư lượng dưới ngưỡng MRL mới đủ điều kiện tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Việc nắm rõ hai danh mục này không chỉ giúp bà con tránh vi phạm pháp luật mà còn là điều kiện tiên quyết để sản phẩm tôm cá đạt chuẩn xuất khẩu vào các thị trường khó tính, nơi mà chỉ một lô hàng dương tính với chất cấm cũng có thể khiến cả doanh nghiệp bị đưa vào diện kiểm soát tăng cường trong nhiều năm.
Nguyên tắc 5 đúng khi dùng kháng sinh cho tôm cá là gì?
Kinh nghiệm thực chiến tại đầm ao cho thấy phần lớn thất bại khi dùng kháng sinh không nằm ở việc chọn sai hoạt chất mà nằm ở cách dùng. Nguyên tắc “5 đúng” được giới kỹ thuật thủy sản đúc kết như sau.
- Đúng thuốc: Chỉ dùng kháng sinh nằm trong danh mục được phép lưu hành, có nguồn gốc rõ ràng, tránh hàng trôi nổi không nhãn mác.
- Đúng bệnh: Xác định chính xác tác nhân gây bệnh là vi khuẩn trước khi dùng thuốc, tránh dùng kháng sinh cho bệnh do virus hoặc ký sinh trùng vì hoàn toàn không có tác dụng.
- Đúng liều: Dùng đủ liều cao ngay từ đầu theo hướng dẫn nhà sản xuất, tuyệt đối không tăng liều dần dần vì dễ khiến vi khuẩn thích nghi và kháng thuốc.
- Đúng lúc và đủ thời gian: Cho ăn kháng sinh khi mật độ vi khuẩn còn thấp sẽ hiệu quả hơn, đồng thời phải dùng đủ liệu trình dù bệnh đã có dấu hiệu thuyên giảm, không ngưng thuốc giữa chừng.
- Đúng thời gian ngừng thuốc trước thu hoạch: Thông thường phải ngừng sử dụng kháng sinh từ 7 đến 14 ngày trước khi thu hoạch để dư lượng phân hủy xuống dưới ngưỡng MRL cho phép, cụ thể phụ thuộc vào từng hoạt chất và khuyến cáo trên nhãn sản phẩm.
Sau khi kết thúc liệu trình kháng sinh, ao nuôi gần như chắc chắn bị mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột lẫn hệ vi sinh môi trường nước. Đây là lúc bắt buộc phải bổ sung ngay men vi sinh và men tiêu hóa để phục hồi hệ vi sinh có lợi, giúp tôm cá ăn mạnh trở lại và hạn chế tái nhiễm bệnh cơ hội.
Lạm dụng kháng sinh thủy sản gây ra hậu quả gì cho ao nuôi và đầu ra sản phẩm?
Thực tế tại nhiều vùng nuôi trọng điểm cho thấy tình trạng lạm dụng kháng sinh, dùng liều thấp kéo dài hoặc dùng để phòng bệnh thay vì trị bệnh đang khiến nhiều chủng Vibrio parahaemolyticus trở nên kháng đồng thời với nhiều nhóm kháng sinh khác nhau. Hậu quả trực tiếp là khi ao thật sự bùng dịch, kháng sinh không còn phát huy tác dụng dù đã tăng liều gấp nhiều lần, khiến người nuôi mất trắng.
Bên cạnh nguy cơ kháng thuốc, ba hệ lụy khác cũng cần được nhìn nhận nghiêm túc. Thứ nhất là dư lượng kháng sinh tồn tại trong thịt tôm cá vượt ngưỡng MRL khiến lô hàng bị trả về hoặc tiêu hủy, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín vùng nuôi và giá bán chung của cả khu vực. Thứ hai là kháng sinh phá vỡ hệ vi sinh có lợi trong môi trường ao, tạo điều kiện cho tảo độc và vi khuẩn cơ hội phát triển mạnh hơn sau mỗi đợt xử lý. Thứ ba là chi phí thuốc thú y tăng cao trong khi hiệu quả điều trị ngày càng giảm, bào mòn lợi nhuận vụ nuôi vốn đã mỏng vì biến động giá thức ăn và giá bán.
Quy trình xử lý bệnh bằng kháng sinh kết hợp phục hồi ao nuôi nên thực hiện thế nào?
Thay vì chỉ tập trung diệt khuẩn bằng kháng sinh rồi bỏ ngỏ phần môi trường và sức khỏe nội tại của vật nuôi, cách tiếp cận bền vững hơn là xử lý đồng thời ba lớp bảo vệ mà đội ngũ kỹ sư Bio Kama áp dụng thực chiến tại ao: môi trường nước, đường ruột và gan tụy.
- Ở lớp môi trường: Cần kiểm soát các chỉ số nền như pH ổn định trong khoảng 7.5 – 8.5, oxy hòa tan trên 4 mg/l, khí độc NH3 dưới 0.1 mg/l, đồng thời dùng chế phẩm sinh học hoặc công nghệ thực khuẩn thể để ức chế mật độ Vibrio trong nước trước khi mầm bệnh bùng phát trở lại.
- Ở lớp đường ruột: Sau liệu trình kháng sinh cần bổ sung ngay men vi sinh đường ruột và acid hữu cơ để tái lập hệ vi sinh có lợi, giúp tôm hấp thu thức ăn tốt hơn và hạn chế tôm bị phân trắng tái phát.
- Ở lớp gan tụy: Cần dùng thêm thảo dược hỗ trợ tái tạo tế bào gan, tăng cường chức năng giải độc để gan tụy phục hồi màu sắc và kích thước bình thường sau tổn thương do bệnh lẫn do chính kháng sinh gây ra.
Việc phối hợp cả ba lớp thay vì chỉ trông chờ vào kháng sinh chính là điều giúp phân biệt một quy trình xử lý bệnh bài bản với cách làm chắp vá theo kinh nghiệm truyền miệng, vốn dễ khiến ao nuôi rơi vào vòng luẩn quẩn tái phát bệnh mỗi vụ.
Bio Kama cung cấp giải pháp kháng sinh thủy sản thế hệ mới nào?
Với triết lý xuất phát từ sự đồng cảm với nỗi lo mất trắng ao nuôi của bà con, Bio Kama phát triển song song hai nhóm sản phẩm bổ trợ lẫn nhau gồm nhóm kháng sinh thế hệ mới nằm trong danh mục cho phép của Cục Thú y dành cho các ca bệnh nặng và nhóm chế phẩm sinh học, thảo dược lên men dùng để phòng ngừa cùng phục hồi sau điều trị.
Trong nhóm kháng sinh đặc trị, Marvatil kết hợp Trimethoprim và Sulfadimidin được dùng cho các ca nhiễm khuẩn trên tôm, cá, ếch khi cần tác động nhanh và dứt điểm, còn L68 chứa Florfenicol được chỉ định riêng cho các bệnh nặng trên lươn, chạch, cá với phổ kháng khuẩn rộng và độ an toàn cao hơn các kháng sinh thế hệ cũ.
Song song đó, các dòng sản phẩm như Phage Pro ứng dụng công nghệ thực khuẩn thể để ức chế Vibrio trong môi trường nước, B52 và Bio Gan hỗ trợ phục hồi đường ruột cùng gan tụy sau điều trị, tạo thành quy trình bảo vệ toàn diện đúng ba lớp môi trường, đường ruột, gan tụy đã trình bày ở trên.
Điểm khác biệt mà bà con thường phản hồi khi dùng sản phẩm Bio Kama không chỉ nằm ở hiệu quả kiểm định thực chiến ngay tại ao mà còn ở sự đồng hành sát sao của đội ngũ kỹ sư nuôi trồng thủy sản, sẵn sàng tư vấn miễn phí cách phối hợp kháng sinh và sinh học sao cho vừa trị dứt bệnh vừa giữ được thời gian ngừng thuốc an toàn trước khi thu hoạch.
Những câu hỏi thường gặp về kháng sinh thủy sản
Kháng sinh có trị được bệnh đốm trắng hay phân trắng do virus không?
Không. Kháng sinh chỉ có tác dụng với vi khuẩn, hoàn toàn không tiêu diệt được virus. Với các bệnh do virus như đốm trắng, Taura hay đầu vàng, biện pháp duy nhất là quản lý môi trường, tăng sức đề kháng và cách ly nguồn bệnh.
Có nên dùng kháng sinh để phòng bệnh định kỳ cho tôm cá không?
Không nên. Dùng kháng sinh phòng bệnh khi chưa xác định mầm bệnh cụ thể là nguyên nhân hàng đầu khiến vi khuẩn kháng thuốc nhanh hơn. Kháng sinh chỉ nên dùng để điều trị khi đã xác định rõ bệnh do vi khuẩn gây ra.
Trộn kháng sinh vào thức ăn hay tạt trực tiếp xuống ao hiệu quả hơn?
Phần lớn kháng sinh thủy sản được thiết kế để trộn vào thức ăn nhằm đưa hoạt chất vào cơ thể vật nuôi, xử lý nhiễm khuẩn nội tại như gan tụy, đường ruột. Tạt trực tiếp xuống ao thường dùng cho mục đích xử lý mầm bệnh trong môi trường nước, cần lựa chọn sản phẩm phù hợp với từng mục đích cụ thể.
Bao lâu thì tôm cá hết dư lượng kháng sinh sau điều trị?
Thời gian đào thải phụ thuộc vào loại hoạt chất, thường dao động từ 7 đến 14 ngày. Đây cũng chính là thời gian ngừng thuốc bắt buộc trước khi thu hoạch để đảm bảo dư lượng xuống dưới ngưỡng MRL cho phép.
Sản phẩm thủy sản có dùng kháng sinh có an toàn để xuất khẩu không?
Có, miễn là kháng sinh sử dụng nằm trong danh mục cho phép, đúng liều lượng và tuân thủ đủ thời gian ngừng thuốc trước thu hoạch để dư lượng đạt dưới ngưỡng MRL theo quy định của thị trường nhập khẩu. Đây cũng là lý do các trang trại xuất khẩu thường ưu tiên quy trình sinh học kết hợp kháng sinh có kiểm soát chặt chẽ thay vì lạm dụng.
Kết luận
Một liều kháng sinh thủy sản đúng thuốc đúng bệnh có thể kéo ao tôm qua khỏi đợt hoại tử gan tụy cấp hoặc giúp ao cá tra thoát cơn gan thận mủ trong vài ngày, nhưng không loại kháng sinh nào cứu nổi một ao nước mất cân bằng vi sinh triền miên. Kháng sinh chỉ nên là công cụ chữa cháy cho một đợt bệnh cụ thể, còn nền tảng giúp vụ nuôi tôm hay nuôi cá về đích với giá thành thấp vẫn là môi trường sạch, đường ruột khỏe và gan tụy tốt được chăm chút mỗi ngày, đây cũng là hướng đi mà đội ngũ kỹ sư Bio Kama kiên trì tư vấn cho bà con.
Nếu ao nuôi đang gặp tình trạng gan tụy bất thường, phân trắng kéo dài hoặc chưa biết nên chọn kháng sinh nào cho đúng bệnh đúng liều, bà con có thể gửi tình trạng ao nuôi cho đội ngũ kỹ sư Bio Kama để được chẩn đoán và tư vấn phác đồ phù hợp. Bà con có thể tham khảo ngay các loại thuốc thủy sản của Bio Kama và liên hệ trực tiếp hotline 0982 266 640 để được kỹ sư hỗ trợ kịp thời trước khi bệnh lan rộng.
